ngaigapco-dmx-1200-44-1200x44-1585368216
Viêm Phổi

Viêm phổi
1. Nguyên nhân:

Bệnh viêm phổi do vi khuẩn Hemophilus Influenzae,
tụ cầu, liên cầu, kí sinh trùng, nấm, vi rút cúm. Bên cạnh
đó, nguyên nhân gây bệnh còn phải kể đến vấn đề ô
nhiễm môi trường, nhà của ấm thấp, khói thuốc lá, cơ
địa dị ứng hoặc trẻ đang mắc các bệnh sởi, cúm, ho gà.
Yếu tố thuận lợi để bệnh bùng phát là khí hậu lạnh, thời
tiết thay đổi vào các tháng đông, xuân.
2. Triệu chứng
Thở nhanh là triệu chứng xuất hiện sớm nhất khi
trẻ vị viêm phổi, sớm hơn cả các dấu hiệu có được khi
nghe phổi bằng ống nghe. Đây là triệu chứng rất dễ phát
hiện ở mọi lúc, mọi nơi chỉ bằng một phương tiện rất dễ
tìm: đồng hồ có kim giây. Khi trẻ bị viêm phổi, phổi của
bé sẽ mất tính mềm mại và không thể giãn nở dễ dàng
khi trẻ hít thở mà hậu quả là có thể bị thiếu Oxy. Vì vậy,
bé buộc phải thở nhanh hơn dê bù đắp lại sự thiếu hụt
này. Chúng ta có thể đếm được nhịp thở của trẻ trong
một phút để xem trẻ có thở nhanh hay không. Nếu trẻ
dưới 2 tháng thở từ 60 lần/phút trở lên, trẻ từ 2 đến 11
tháng thở từ 50 lần/phút trở lên và trẻ từ 12 tháng đến 5
tuổi thở 40 lần/phút trở lên, là trẻ đã có triệu chứng viêm
phổi, cần được đưa đến cơ sở y tế thăm khám và điều
trị ngay. Nhịp thở của trẻ có thể tăng khi gắng sức (bú,
quấy khóc...) nên chúng ta cần phải đếm nhịp thở khi trẻ
nằm im, tốt nhất là khi ngủ.
Khi trẻ bị viêm phổi diễn tiến thành nặng, phổi sẽ
ngày càng mất tính mềm mại có thể trở nên đặc cứng
làm trẻ phải gắng sức nhiều để thở. Những dấu hiệu biểu
hiện ra ngoài khi các cơ hô hấp, đặc biệt là cơ hoành,
một loại cơ hô hấp ngăn đội ngực và bụng, phải tăng
cường co bóp để bù đắp. Khi đó, phần dưới lồng ngực
của trẻ sẽ bị cơ này kéo lõm vào khi trẻ hít vào. Như vậy
khi trẻ có dấu hiệu thở co lõm lồng ngực, thì bệnh viêm
phổi đã nặng, cần nhập viện ngay để điều trị. Để nhận ra
chính xác dấu hiệu này, chứng ta cần vén áo trẻ cao lên
dễ thấy rõ vùng ngực và bụng trẻ, quan sát khi trẻ nằm
yên, không bú, không khóc.
Cha mẹ cần phải đặc biệt chú ý và cần thuộc lòng
các dấu hiệu cho biết trẻ đang trong tình trạng nguy
hiểm, tính mạng đang bị đe dọa. Những dấu hiệu này
không chỉ trong bệnh viêm phổi, mà còn có trong nhiều
loại bệnh nặng khác cũng cần được cấp cứu kịp thời, ở
trẻ dưới 2 tháng, là hiện tượng bỏ bú hoặc bú kém, co
giật, trẻ ngủ li bì, khó đánh thức trẻ dậy, sốt hoặc lạnh,
thở khò khè. Trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi, có biểu hiện
không thể uống được gì cả, co giật, ngủ li bì, khó đánh
thức, thở có tiếng rít, suy dinh duỡng nặng. Cha mẹ của
bé cần phải đưa trẻ đi bệnh viện cấp cứu lập tức để còn
có thể cứu sống được trẻ.
3. Cách phòng và điều trị
Bảo đảm giữ ấm cho trẻ, cho trẻ sơ sinh bú sữa mẹ
hoàn toàn để tăng sức đề kháng cho trẻ. Giữ vệ sinh cho
trẻ, người chăm sóc phải rửa tay trước và sau khi chăm
sóc trẻ để trẻ không bị lây nhiễm vi khuẩn. Dụng cụ để
chăm sóc trẻ như cốc, thìa, chăn, áo, tã... phải sạch,
khô, vô trùng.
Cha mẹ nên làm vệ sinh cơ thể, đặc biệt là khu vực
tai, mũi, họng cho trẻ hàng ngày. Tránh các tắc nhân
gây dị ứng và cách ly trẻ với môi trường khói thuốc, hóa
chất hoặc không nên để trẻ tiếp xúc với chó, mèo. Thậm
chí, nhiều trẻ có tiền sử dị ứng với lông chó, mèo cũng có
nguy cơ mắc chứng viêm phế quản phổi khi chơi với thú
nhồi bông. Phòng ngủ của trẻ cần được đặc biệt thông
thoáng, trong lành. Không nên trải thảm trong phòng
trẻ. Nên thường xuyên giặt chăn, gối dành cho trẻ, sau
đó phơi nắng thật khô.
Để trẻ được chăm sóc đúng cách, sớm khỏi bệnh,
cha mẹ bé phải thực hiện tốt 4 việc là cho trẻ uống kháng
sinh thích hợp, điều trị các triệu chứng kèm theo, biết
cách chăm sóc trẻ tại nhà, biết được khi nào cần đưa trẻ
đến khám lại bao gồm tái khám theo hẹn và khám lại
ngay lập tức khi diễn tiến của bệnh xấu đi.
Điều quan trọng nhất dễ trẻ có thể khỏi bệnh viêm
phổi là trẻ cần phải được cho uống kháng sinh thích hợp
đúng cách, đủ liều và đủ thời gian. Khi được thầy thuốc
chỉ định phác đồ điều trị, cha mẹ của trẻ cần nhận biết
đúng dạng thuốc cần cho trẻ uống, liều lượng mỗi lần
uống, số lần uống trong ngày và số ngày cần cho trẻ uống
thuốc. Đối với các loại thuốc viên, cần tán nhỏ viên thuốc
trước khi cho trẻ uống (có thể cho vào một ít nước và chờ
vài phút, nước sẽ làm viên thuốc bở ra và dễ nghiền nhỏ
hơn). Có thể pha thêm một ít đường, hoặc pha với một ít
sữa, nước cháo để bé có thể uống dễ dàng hơn. Cha mẹ
cũng cần lưu ý, nếu trẻ nôn ói trong vòng 30 phút sau
khi uống thuốc, bắt buộc phải cho bé uống lại một liều
thuốc khác. Tùy trường hợp mà thầy thuốc sẽ cho trẻ các
loại thuốc cần thiết như thuốc hạ sốt (Paracetamol), thuốc
điều trị khò khè (Salbutamol, Trebutaline). Cần cho trẻ
uống đúng theo hướng dẫn, dù rằng các loại thuốc này
cũng khá an toàn cho trẻ em. Tuy nhiên, cha mẹ cũng cần
tránh lạm dụng kháng sinh khí trẻ chỉ bị cảm ho thông
thường, vì ngoài việc tốn kém, lạm dụng kháng sinh sẽ
gây các tác dụng phụ cho trẻ, về lâu về dài dễ gây nhờn
thuốc. Nhiều nghiên cứu dược phẩm đã chứng minh việc
lạm dụng kháng sinh vẫn không ngừa được biến chứng
viêm phổi ở bé chỉ bị ho cảm thông thường.
Để chăm sóc trẻ tại nhà khi trẻ bị bệnh viêm phổi,
cần phải tăng cường cho ăn, bú, đủ chất, đều đặn, tránh
các tập quán kiêng ăn. Khi trẻ vừa khỏi bệnh cũng cần
bồi dưỡng thêm cho trẻ mau lại sức. Bệnh hô hấp thường
gây nghẹt, tắc mũi khiến trẻ sẽ khó bú, khó ăn hơn vì
vậy cần thông mũi (thụt rửa bằng nước muối y tế), để trẻ
có thể bú, ăn dễ dàng hơn. Mẹ bé cần cho trẻ uống nhiều
nước hoặc tăng cường cho bú, đây là điều rất quan trọng
vì trẻ bị viêm phổi cần được cũng cấp nhiều nước để
làm loãng đàm, dịu họng, giảm ho. Gần lưu ý, ho là một
phản xạ có lợi để tống đờm, rãi ra ngoài, giúp đường hô
hấp được thông thoáng để trẻ có thể hít thở dễ dàng. Vì
vậy không nên lạm dụng các loại thuốc ho để kìm hãm
phản xạ có lợi này của trẻ, nhất là khi hiện nay có nhiều
loại thuốc ho có thể gây ngộ độc, tác dụng phụ nếu dùng
không đúng cách. Cũng có thể dùng các loại dược thảo,
thuốc nam an toàn, đã từng được lưu truyền rất rộng rãi
trong dân gian như: quất chưng đường, rau tần dầy lá,
mật ong, gừng,., thuốc ho có thành phần chính là thảo
dược an toàn như tần dầy lá, núc nác...
Một vấn đề quan trọng mà các bậc cha mẹ thường
thiếu lưu tâm là vấn đề tái khám của trẻ. Nếu cha mẹ
không thực hiện đúng yêu cầu tái khám, sẽ khiến việc
điều trị của trẻ trở nên khó khăn, làm giảm hiệu quả của
thuốc. Nguyên tắc tái khám là trẻ cần được bác sĩ khám
lại sau 2 ngày, để đánh giá xem thuốc kháng sinh này có
hiệu quả tốt hay không. Ngay trong trường hợp tốt nhất
(trẻ thở trở lại bình thường, hết sốt, ăn, bú khá hơn) vẫn
phải tiếp tục cho uống kháng sinh đủ thời gian 5 ngày.
Nếu sau 2 ngày tái khám, trẻ còn thở nhanh, thầy thuốc
sẽ cho bé dùng một loại kháng sinh cần thiết khác, hoặc
cho nhập viện điều trị.