ngaigapco-dmx-1200-44-1200x44-1585368216
Bệnh lao sơ nhiễm

Bệnh lao sơ nhiễm
1. Định nghĩa
“Lao sơ nhiễm” (còn được gọi là lao nguyên phát
hay lao khỏi đầu) là toàn bộ những biểu hiện và thay đổi
của cơ thể sau lần đầu dân cơ thể tiếp xúc với vi trùng
lao. Lao sơ nhiễm là bệnh ở trẻ em, đặc biệt là trẻ từ 1
đến 5 tuổi, bệnh rất ít gặp ở người lớn.
2. Nguyên nhân
Lao sơ nhiễm thường gặp ở trẻ chưa tiêm vacxin
phòng lao hoặc đã tiêm nhưng chưa đủ liều gây miễn dịch.
Vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể gây tổn thương
sơ nhiễm bằng ba cơn đường:
Đường hô hấp:Do hít phải các giọt nước bọt có
chứa từ 1 đến 2 vi khuẩn lao mà người bị lao phổi ho
khạc bắn ra bên ngoài.
Đường tiêu hóa:Lây nhiễm theo cơn đường này
phần lớn là do uống phải sữa tươi của những con bò
bị lao vú chưa tiệt trùng hoặc tiệt trùng không đúng
nguyên tắc. Do nuốt phải vi khuẩn lao lẫn trong thức ăn,
đồ uống khác. Thể đặc biệt là lao sơ nhiễm bấm sinh, do
thai nhi nuốt phải nước ối hoặc dịch âm đạo có vi khuẩn
lao, do người mẹ bị lao nội mạc từ cũng hoặc lao âm đạo.
Đường da - niêm mạc:Lây nhiễm theo đường này
hiếm gặp hơn, vi khuẩn lao có thể xâm nhập vào những
vùng da sây sát, chảy máu hoặc những vùng niêm mạc
mắt, họng... bị tổn thương.
Vi khuẩn lao gây tổn thương sơ nhiễm ở những nơi
xâm nhập: phế nang phổi, niêm mạc ruột, mắt, họng
hoặc, da hình thành ố loét sơ nhiễm; sau đó theo đường
bạch huyết lan vào các hạch kliu vực, phát triển ở đây
tạo thành phức hợp sơ nhiễm.
3. Triệu chứng
Các triệu chứng thường không rõ ràng, không có biểu
hiện rầm rộ.

- Triệu chứng toàn thân: Biếng ăn, sụt cân hay
chậm lên cân, đổ mồ hôi lúc ngủ dù khi trời lạnh, sốt
kéo dài hay sốt tái đi tái lại.
- Các triệu chứng hô hấp thường gặp: Ho kéo dài,
ho tái đi tái lại, thở khò khè, khó thở. Các triệu chứng
này do sung các hạch bên trong lồng ngực, làm chèn ép
bên trong lồng ngực. Các triệu chứng này có thể làm trẻ
được dán đoán ban đầu nhầm với các bệnh lý hô hấp khác.

- Các triệu chứng ít gặp khác: Hồng ban nút ở da,
viêm kết mạc phóng nước mắt, tiêu chảy kéo dài, sưng
hạch trong ổ bụng, nốt loét ở da...
- Lao sơ nhiễm có thể gây ra các biến chứng nặng
hơn như lao phổi, xẹp phổi, giãn phế quản, hay các dạng
bệnh lao nặng hơn như lao màng não, lao màng bụng,
lao xương, lao thận...
Các triệu chứng nghi ngờ trẻ mắc lao sơ nhiễm: Sốt
kéo dài hay có các đợt sốt tái đi tái lại, chậm lớn, sụt cân,
đố mồ hôi trộm, ho kéo dài, khò khè kéo dài; hoặc trẻ
được chuẩn đoán hen suyễn hay viêm phế quản nhưng
điều trị liên tục mà vẫn không thấy hết, hoặc có giảm ho
một thời gian rồi lại ho tái trở lại. Đặc biệt kèm theo đó
là trong gia đình có người bị bệnh lao phổi thì rất nhiều
khả nẳng là trẻ bị lao so nhiễm. Lúc này, bé cần được
đưa đến các phòng khám chuyên về lao và hô hấp để
được tầm soát bệnh.
Các xét nghiệm mà hác sĩ có thể tìm chuẩn đoán lao sơ nhiễm:
-
Chụp phim X-quang phổi.
- Soi đờm tìm vi trùng lao (ở những trẻ khạc đờm
được), hay lấy dịch dạ dày tìm vi trùng lao (ở những trẻ
không khạc được đờm).
- Phản ứng lao tổ.
- Chụp CT scan ngực.


Trừ trường hợp tìm thấy vi trùng lao trong đờm
hay dịch dạ dày, tất cả các xét nghiệm đều là gợi ý. Bác
sĩ có thể phải dựa vào nhiều các yếu tố: triệu chứng bệnh
của bé, xét nghiệm, sự đáp úng với các điều trị trước đây,
nguồn lây lao... để có thể chuẩn đoán được bệnh.
Lao sơ nhiễm khó chuẩn đoán
-
Triệu chứng bệnh thường mơ hồ, Không rõ ràng.
Trẻ có thể chỉ có biểu hiện một hay hai triệu chứng của
lao sơ nghiễm. Chắng hạn như: trẻ có thể chỉ có biểu hiện
duy nhất là chậm lớn hay sụt cân, cha mẹ ít chú ý đến triệu
chứng nên không đưa trẻ đi khám bệnh; hoặc trẻ có thể
chỉ có biểu hiện duy nhất là khò khè kéo dài, khiến trẻ có
thể được chuẩn đoán nhầm với viêm phế quản hay viêm
đểu phế quản, hen suyễn. Vì thế, việc đưa trẻ đi khám
tâm soát lao, khi trẻ có tiếp xúc với người bệnh lao , là rất quan trọng.
- Ngoài ra, các xét nghiệm haíi chế do ít khi tìm
thấy vi trùng lao ở trẻ, trẻ ở không khạc được đờm.
Xét nghiệm tối tân như CT scan ngực thì hữu ích trong
việc chuẩn đoán bệnh, nhưng vừa đắt tiền lại vừa làm trẻ
bị nhiễm tia phóng xạ nhiều hơn.
4. Cách phòng và điều trị
- Cho trẻ tiêm phòng lao. Tiêm phòng lao giúp trẻ
giảm nguy cơ mắc bệnh lao, dặc biệt là thể lao nặng như
lao màng não, cliứ Không phải tiêm phòng lao rồi thì sẽ
không bị mắc bệnh lao.
- Kiểm soát lao: Những người có tiếp xúc với người
bệnh lao phổi thì nên được khám tầm soát lao, hoặc
trong gia đình có người mắc bệnh lao phổi thì tất cả
thành viên trong gia đình nên được kiểm soát lao, đặc
biệt là trẻ nhỏ, dù cho không có triệu chứng gì, vì một số
trường hợp trẻ sẽ không có triệu chứng gì cho đến khi cơ
thể phát bệnh lao nặng.
- Nếu trong gia đình có người bệnh lao phổi thi cần
áp dụng các biện pháp vệ sinh để tránh lây nhiễm lao
cho người khác (ở phòng riêng, ăn uống riêng, đeo khẩu
trang, rửa tay thường xuyên). Tránh cho trẻ tiếp xúc với
người bệnh lao phổi.
- Tăng cưòng sức dề kháng của cơ thể (chống suy
dinh dưỡng).
- Giữ nhà của thông thoáng.
- Bản thân người bệnh lao phổi: Cần ý thức tránh
lây lan cho cộng đồng bằng cách đeo khẩu trang khi tiếp
xúc với người khác, che miệng khi ho, khạc nhổ, không
khạc nhổ bừa bãi, rửa tay thường xuyên.
- Trẻ mắc lao so nhiễm cần được điều trị bằng thuốc
kháng lao. Trẻ được uống thuốc lao hàng ngày, trong
thời gian ít nhất 6 tháng. Thuốc lao có nhiều tác dụng
phụ, do đó trẻ cần được theo dõi, tái khám đầy đủ theo
hẹn của bác sĩ trong quá trình dùng thuốc, để đánh giá
kết quả điều trị cũng như gải quyết những tác dụng phụ
của thuốc lao nếu có.