ngaigapco-dmx-1200-44-1200x44-1585368216
Tràn Dịch Màng Phổi Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Tràn Dịch Màng Phổi

Tràn Dịch Màng Phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

1. Định Nghĩa Tràn Dịch Màng Phổi Là Gì?

Mỗi lá phổi trong lồng ngực được bao quanh bởi hai lớp màng rất mỏng gọi là màng phổi. Hai lớp màng này tạo thành một khoang áo, bình thường chỉ có vài ml dịch để giúp cho bề mặt màng phổi được trơn láng khi cọ sát vào nhau. Khi có một bệnh lý nào đó có ảnh hưởng đến màng phổi, dịch của cơ thể có thể tích tụ lại trong khoang màng phổi, khi đó ta nói có tràn dịch màng phổi.

2. Nguyên Nhân Bệnh Tràn Dịch Màng Phổi

Tùy theo tuổi, thói quen đời sống, các nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi thường gặp có thể khác nhau chút ít từ vùng này vùng khác trên thế giới. Tràn dịch màng phổi là biểu hiện thường gặp của nhiều loại bệnh khác nhau, ở Việt-Nam, những bệnh thường gặp là nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi là: lao, ung thư, suy tim, gan, thận và viêm phổi. 

Các bệnh về phổi và hô hấp

  • Lao màng phổi: Rất hay gặp, nhất là ở người trẻ tuổi. Điển hình là một người đang khỏe mạnh, sau ít ngày thấy mệt mỏi, có cảm giác đau nhói một bên ngực, có thể thấy khó thở, sốt nhẹ, ho khan. Khám bệnh, chụp phim thấy trắng một bên phổi do có dịch trong khoang màng phổi, có thể có cả lao phổi kèm theo. Bệnh đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc  kháng lao.
  • Ung thư: Ung thư của phế quán, phổi có thể gây  tràn dịch màng phổi do tế bào ung thư xâm lấn vào màng phổi hoặc gián tiếp do bít tắc các đường dẫn lưu  dịch từ màng phổi đi ra. Bệnh nhân thường là người lớn tuổi, nghiện thuốc lá, ho dai dẳng từ trước đó, khó thở ngày càng nhiều, cũng có khi là ung thư từ nơi khác chạy vào màng phổi. 
  • Suy tim: Tim suy không thể bơm hết máu từ phổi đổ về, máu ứ lại trong phổi làm cho huyết tương thoát khỏi mạch máu vào khoang màng phổi. Người bệnh khó thở do suy tim, nay có dịch màng phổi khó thở tăng thêm, ho, phù chân... chuẩn đoán không khó khăn.
  • Viêm phổi: Phổi bị nhiễm trùng rồi vi trùng lan ra màng phổi hoặc vùng phổi bị nhiễm trùng quá gần màng phổi làm màng phổi bị kích thích tiết ra dịch. Trường hợp này không diều trị đủng, dịch sẽ thành mủ màng phổi, điều trị khó khăn. 

Ngoài ra, còn rất nhiều nguyên nhân khác có thể gây tràn dịch màng phổi, từ phong thấp đến xơ gan hay sau khi mổ tim. Bác sĩ sẽ khám và làm các xét nghiệm cần thiết để t'ưn nguyên nhân, khi đó điều trị mởi mong có kết quả. 

3. Triệu Chứng Bệnh Tràn Dịch Màng Phổi

Màng phổi có rất nhiều mạch máu và thần kinh. Khi bị tổn thương, triệu chúng đầu tiên chính là đau. Đau của bệnh lý màng phổi rất đặc biệt, gọi là đau ngực kiểu màng phổi. Tùy vị trí bị tổn thương mà bệnh nhân  có thể cảm thấy đau ở vị trí khác nhau. Màng phổi vùng giữa ngực cho cảm giác đau tại nơi đó. Nhưng do phân bố thần kinh chứng, tổn thương màng phổi vùng ngoài cơ hoành có thể gây đau ở bụng. Tổn thương màng phổi vùng giữa cơ hoành hoặc trung thất lại gây đau ở cố. Tùy nhiên, dù đau ở đâu thì đau do màng phổi cũng đều có đặc điểm là đau tăng lên khi hít sâu, khi ho. Nguyên do là màng phổi bị kéo căng và cọ sát nhau nhiều hơn khi người bệnh thực hiện những thao tắc đó. Khi tràn dịch lâu ngày, cảm giác đau mất dần đi, khi đó người bệnh có thể chỉ còn cảm giác tức nặng bên ngực bị bệnh mà thôi. 

  • Rất nhiều trường hợp đau do tràn dịch màng phổi bị chuẩn đoán là đau dây thần kinh liên sườn. 
  • Khi có dịch trong khoang màng phổi, phổi bị ép lại. Do đó người bệnh sẽ có cảm giác khó thở. Khó thở nhiều hay ít là tùy dịch nhiều hay ít, tùy  người bệnh có bệnh kèm theo hay không, tùy tình trạng phổi trước đó và hiện nay. 
  • Bệnh nhân có thể có ho. Thường chỉ là ho khan, nhưng khi có bệnh trong phổi thì ho có thể có đàm. Ho làm đau ngực tăng thêm. Triệu chứng toàn thân có thể là sốt. 

Làm thể nào để chắc chắn có tràn dịch màng phổi?

  • Để chắc chắn có dịch trong màng phổi thì phải rút được dịch từ khoang màng phổi. Bác sĩ sau khi khám bệnh, chụp X-quang và siêu âm nếu cần để xác định vị trí thuận lợi nhất, sẽ dùng ống tiêm hút dịch ra. Dịch này được dùng để xét nghiệm nhằm truy tìm nguyên nhân gây tràn dịch. Thường nguời ta sẽ đo nồng độ protein và vài chất đặc biệt khác, nhuộm  để quan sát các tế bào hiện diện trong dịch và có thể lấy dịch nuôi cấy vi trùng. Nếu dịch quá nhiều làm người bệnh khó thở, bác sĩ sẽ giải tỏa bằng cách rút nhiều dịch để giúp phổi dễ giãn nở hơn. Chọc hút dịch màng phổi tuy là một thủ thuật thông thường, nhưng cũng cần thận trọng để tránh những tai biến đáng tiếc. 
  • Điều trị nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi có hiệu quả, dịch tự mất đi. Có thể sau đó không có bất  kỳ di chứng gì như trong trường hợp lao, viêm phổi... Người bệnh có thể tập thêm vật lý trị liệu để việc hô hấp mau về bình thường.
  • Tóm lại, tràn dịch màng phổi thường gặp, cả nguời lớn lẫn trẻ em. Tràn dịch màng phổi chỉ là biểu hiện của một bệnh nào đó của phổi hoặc của cơ quan khác. Nguyên nhân có thể là do nhiễm trùng như lao, viêm phổi, hoặc do ung bướu, suy tim, bệnh toàn thân... Ngay khi thấy có đau ngực kiểu màng phổi, khó thở, cần đi khám Bác sĩ để phát hiện sớm tràn  dịch, tìm nguyên nhân để điều trị tận gốc.


4. Cách Phòng Và Điều Trị Bệnh Tràn Dịch Màng Phổi

Nguyên tắc là sớm, mạnh, đủ liệu trình, phối hợp, và theo dõi diễn tiến điều trị. 

Điều trị nội khoa

a. Điều trị nguyên nhân

Phải căn cứ vào vi khuẩn của dịch màng phổi và kháng sinh đồ. nếu chưa có kháng sinh đồ thì dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, tính chất dịch màng phổi, kinh nghiệm lâm sàng, yếu tố dịch tễ và diễn tiến của bệnh. 

Chủ yếu là kháng sinh bằng đường toàn thân và tại chỗ vào màng phổi.
* Kháng sinh đường toàn thân: Nên phối hợp ít nhất 2 kháng sinh diệt khuẩn bằng đường tiêm bắp hay tĩnh mạch trong các trường hợp nặng, có nguy cơ kháng thuốc cao.

- Do phế cầu, liên cầu: Kháng sinh vẫn có tắc dụng tốt hiện nay là:

  • Pénicilline G 1 - 3 triệu đơn vị/6 giờ tiêm bắp, có thể phối hợp với
  • Gentamycine 3 - 4 mg/kg/24 giờ chia 3 lần nếu phản ứng với Pénicillin thì dùng.
  • Erythromycin 1500 - 2000 mg/ngày chia 3 lần hay Roxycillin 150 mg X3 viên/ngày.

- Do tụ cầu vàng: Hầu hết tụ cầu vàng đề kháng với Pénicillin, nên dùng:

  • Celalosporine II: (Ceclor, Keílor...) liều 3 - 6 g/ngày chia 3 lần tiêm bắp hay tĩnh mạch hoặc;
  • Celalosporine III (Celomic, Celobis, Claloran, Rocéphin...) liều như trên, phối hợp với một thuốc nhóm aminoside như:
  • Amiklin 1 - 2 g/ngày tiêm bắp hay Gentamycine. 
  • Hoặc là dùng: Vancơmycine 30 - 60 mg/kg/ngày tiêm bắp hay tĩnh mạch phối hợp các loại kê trên.

- Do Klebsiella pneu (Priedlander), dùng nhóm Aminoside như:

  • Amiklin 1 - 2 g/ngày tiêm bắp hay Gentamycine.
  • Celalosporine III liều 3 - 6 g/24 giờ clũa ba lần tiêm bắp hay tĩnh mạch.
  • Tobramycine 3 - 5 mg/kg/24 giờ tiêm bắp hay tĩnh mạch.

- Do vi khuẩn kỵ khí:

  • Pénicillin G: liều 4-12 triệu đơn vị/ngày tiêm bắp hay tĩnh mạch chia bốn lần phối hợp với
  • Metronidazole 250 mg X4 - 8 viên/ngày và thêm Gentamycine nếu cần, hoặc
  • Clindamycin (Dalacin C) 300 - 450 mg X4 lần/ngày hoặc
  • Cefalosporine III liều như trên.

- Do Pseudomonas

  • Celalosporine III phối hợp Gentamycine hay Kanamycine hoặc dùng
  • Carbenicilline 70 mg/kg/8 giờ tiêm bắp hay tĩnh mạch phối hợp 1 Aminoside.


Nếu không tìm thấy vi khuẩn thì dựa vào bệnh cảnh lâm sàng, yếu tố dịch tê, kinh nghiệm thầy thuốc...

* Kháng sinh vào màng phổi; Thực hiện sau khi chọc dò tháo dịch màng phổi, súc rửa màng phổi bằng dung dịch muối sinh lý, đưa kháng sinh vào màng phổi, có chỉ định nhất là trong trường hợp màng phổi dày kháng sinh không thể ngấm vào được. Kháng sinh chỉ định đưa vào màng phổi thường là nhóm A-lactam, Gentamycin... 


b. Điều trị triệu chứng

*Giảm đau và hạ sốt: Paracetamol 500 mg X3 - 4 lần/ngày, hoặc Acetaminophene, Diantalvic. Nếu đau nhiều có thể dùng loại Elleralgan - Cơdein 2 - 3 viên/ngày. 

* Nếu khó thở nhiều tháo bớt dịch, không quá 500 ml/lần. Hoặc thở Oxy qua sonde mũi. 

* Chống dày dính màng phổi: 

  • Prednisone 5 mg X6 - 10 viên/ngày chia 2 lần hoặc Hydrocơrtison
  • Depersolone bơm vào màng phổi 1 - 2 ngày 1 lần. 

c. Điều trị hỗ trợ

  • Nghỉ ngơi tại giường giai đoạn bệnh tiến triển.
  • Ăn nhẹ, dễ tiêu, nhiều đạm, đủ calo và vitamin nhóm B, c.
  • Bù nước và điện giải đủ, nhất là có sốt cao, lấy dịch màng phổi nhiều.

Điều trị ngoại khoa

  • Dãn lưu màng phổi tối thiểu,súc rửa màng phổi và đưa kháng sinh vào màng phổi nhất là trường hợp mủ quá đặc.
  • Bóc tách màng phổi  khi có dày dính, tạo vách, kén... 

Bệnh được xem là khỏi khi toàn trạng khỏe, ăn ngon, không sốt, hết triệu chứng thực thể, X-quang và chọc dò không có dịch, xét nghiệm về máu trở về bình thường.

d. Điều trị khác bằng máy xông mũi họng

  • Phục hồi chức năng hô hấp bằng tập thở, thổi bóng, tập các động tác giãn nở lồng ngực trong thời gian dài. Gây dính màng phổi bằng povidone trong trường hợp tràn dịch màng phổi nhiều tái phát nhanh.
  • Sử dụng máy xông mũi họng Nova để hỗ trợ thở khí dung làm tăng hiệu quả điều trị bênh tràn dịch màng phổi. Để tìm mua và đặt hàng máy xông mũi họng Nova các bạn xem TẠI ĐÂY.

Xem thêm: 

Các bênh về phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị