ngaigapco-dmx-1200-44-1200x44-1585368216
Lao Phổi Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Lao Phổi

Lao Phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

1.Định nghĩa Lao Phổi Là Gì?

  • Lao Phổi là một bệnh truyền nhiễm, ở con nguời, nó được gây ra bởi một loại vi trùng có tên gọi là Mycơbacterium tiiberculosis. Bệnh này giết hơn hai triệu người mỗi năm trên toàn thế giới.
  • Đa số các tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển. Khoảng một phần ba dân số thế giới bị nhiễm vi trùng lao. Tuy nhiên, hầu hết không có triện chứng của bệnh, ở những người này, vi trùng ở dạng không hoạt động và người đã bị nhiễm lao trong giai đoạn bất hoạt này không lây bệnh sang người khác. Khi hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị yếu di, vi trùng lao sẽ “vùng dậy”, tái hoạt và gây ra bệnh. 
  • Trên phạm vi toàn thể giới, lao là bệnh truyền nhiễm gây chết đứng hàng thứ hai, chỉ sau Siđa - HIV. Nhiều người bị Siđa cũng đã bị chết vì sự hoành hành của lao khi hệ miễn dịch đã quá suy yếu. 
  • Lao phổi thường gặp ở người lớn, ở trẻ em lao phổi hay gặp ở trẻ 10 đến 14 tuổi. Đây là lứa tuổi có nhiều thay đối về nội tiết, bệnh lao phổi có những đặc điểm riêng. Do sức đề kháng giảm nên tỷ lệ lao phổi ở người già cũng gặp nhiều hơn.

2. Nguyên Nhân Lao Phổi 

Vi khuẩn gây bệnh

Chủ yếu là vi khuẩn lao nguời (M. từbcrculosis hominis); có thể do vi khuẩn lao bò nhưng ít gặp. Nguồn gốc của vi khuẩn lao do bội nhiễm từ môi trường bên ngoài hoặc từ tổn thương cũ, vi khuẩn tái diễn trở lại. Những người có HIV/AIDS khi bị lao phổi, nguyên nhân gây bệnh còn có thể do các trực khuẩn kháng cồn kháng toan không điên hình hay gặp là ycơbaterium avium intracellulare (M-AI), M. kansasii, M. malmoense, M. xenopi...

  • Tên tắc nhân; Trực khuẩn lao (Mycơbacterium tưberculosis) thuộc họ Mycơbacteriaceae.
  • Hình thải: Trực khuẩn lao h'mh que, bắt màu tím khi nhuộm Gram, bắt màu đỏ khi nhuộm Zielil-Neelsen. Trực khuẩn không sinh nha bảo, không di động, sinh sản chậm (20 giờ một tlrế hệ mới ra đời), thiếu khí.
  • Khả nẳng tồn tại trong môi trường bên ngoài: Trực khuẩn lao kháng lại cồn và axit ở nồng độ diệt được vi khuẩn khác. Trực khuẩn lao sống được nhiều tuần trong đờm, trong rác ấm và tối, chết ở nhiệt độ lOO0C/5 phút và dễ bị mất khả năng gây bệnh dưới ảnh nắng mặt trời.
  • Bệnh rất dễ lây từ người sang người do lây bằng đường hô hấp . Khả năng lây mạnh trong thời gian chưa được điều trị. Cứ 1 người bị lao phổi có ho khạc ra vi khuẩn có thể lây cho 10 đến 15 người khác, nhất là trong các quân thể dân cư nhỏ như gia đình, lớp học, trại tập trung... trước khi người bệnh được điều trị. Khi đã được điều trị bằng thuốc chống lao, khả năng lây bệnh rất thấp. Bệnh có thể gặp bất cứ ở lứa tuổi nào, thời gian nào của cuộc đời. Hay gặp nhất là ở lứa tuổi trè, phụ nữ mang thai, cho cơn bú. Đặc biệt, bệnh dễ xuất hiện ở những người có nguy cơ cao như mắc các bệnh mãn tính khác như đái tháo đường, nhiễm HIV, điều trị các thuốc ức chế miễn dịch... Tỷ lệ mắc bệnh ờ thành thị đông người cao hơn ở nông thôn và miền núi.


Nguồn truyền nhiễm

  • Không có ổ chứa mâm bệnh trong thiên nhiên hoặc vật trung gian truyền bệnh.
  • Nguồn bệnh là những người bệnh lao phổi, lao thanh quán, phế quản trong giai đoạn ho khạc ra vi khuẩn lao.
  • Thời gian ủ bệnh của lao phổi rất khác nhau. Khi vi khuẩn lao vào phổi, cơ thể sẽ có đáp ứng với kháng nguyên của vi khuẩn lao (phản ứng Mantoux chuyên từ âm tính sang dương tính), vi khuẩn lao có thể tồn tại trong cơ thể suốt cuộc đời của nguời đó mà không gây bệnh. Nhưng cũng có thể sau khi tiếp xúc với một số lượng lớn vi khuẩn lao trong một  thời gian dài (sống chứng với người bị lao phổi ho khạc ra vi khuẩn lao, không có phương pháp phòng bệnh) trong vài ngày đến vài tuần, nguời tiếp xúc có thể phát bệnh.
  • Thời kỳ lây truyền mạnh nhất là thời kì toàn phát của lao phổi (sốt về chiều, ho nhiều, khạc đờm). Thời kì lây truyền này kéo dài cho đến khi người bệnh được dùng thuốc lao 2 tuần đến 1 tháng. Nếu không được phát hiện và điều trị, người bệnh sẽ liên tục phát tán vi khuẩn lao trong suốt thời gian họ sống. Phương thức lây truyền: Lao phổi lây truyền qua  qua đường hô hấp. Vi khuẩn lao từ các hạt nước bọt li ti, hoặc trong các hạt bụi nhỏ có đường kính từ 1 đến 5 mm sẽ dễ dàng bị hít vào phổi, xuống tận phế nang và nhân lên, gây bệnh tại phổi. Từ phổi, vi khuẩn có thể qua máu, bạch huyết đến các tạng khác trong cơ thể (hạch bạch huyết, xương, gan, thận...) và gây bệnh tại các cơ quan đó của cơ thể. 

Tính cảm nhiễm và miễn dịch

  • Ai cũng có thể mắc bệnh lao phổi. Trẻ sơ sinh chưa có miễn dịch bảo vệ nên rất dễ mắc bệnh. Phụ nữ mang thai, cho con bú, người bị HIV, đái tháo đường, người đang dùng các thuốc ức chế miễn dịch điều trị một số bệnh khác... là những người có nguy cơ cao dễ mắc lao phổi hoặc lao các cơ quan khác. 
  • Miễn dịch với lao là miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bảo nhưng hiệu lực bảo vệ không mạnh và không bền. Miễn dịch với lao là miễn dịch thu được, không truyền từ mẹ sang cơn cho, nên cần phải tạo miễn dịch cho trẻ bằng cách tiêm phòng lao (vắc xin BGG) sau khi trẻ sinh ra.

3. Triệu Chứng Lao Phổi

Thời kỳ bắt đầu

Đa số trường hợp bệnh bắt đầu một cách từ từ với các dấu hiệu sau đây:

  • Triệu chứng toàn thân:Bệnh nhân mệt mỏi, giảm khả năng làm việc, ăn kém, gầy sút, sốt nhẹ về chiều tối (3705 đến 380C) kèm theo ra mồ hôi về ban đêm, da xanh... Các triệu chứng trên đây được nhiều tài liệu gọi là hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc lao. Triệu chứng sốt về chiều trong bệnh lao ngày nay được cho là do tắc động của một số Interleukin hiterleukin 1, Interleukin 4).
  • Triệu chứng cơ năng:Triệu chứng hay gặp nhất là ho khạc đờm: Đờm nhầy, màu vàng nhạt, có thể màu xanh hoặc mủ đặc. Đây là triệu chứng quan trọng, người thầy thuốc cần cho làm xét nghiệm sớm để chuẩn đoán. 
  • Ho ra máu:Khoảng 10% bệnh nhân bị bộiứi, bắt đầu biểu lữện bằng triệu chứug ho ra máu, thường ho ra máu ít, có đuôi khải huyết. Đau ngực: Đây là triệu chứng không gặp thường xuyên, thường đau khu trú ở một vị trí cố định. Khó thở: Chỉ gặp khi tổn thương rộng ở phổi, hoặc bệnh phát hiện muộn.
  • Triệu chứng thực thể:ở giai đoạn đầu, các dấu hiệu thực thể nghèo nàn, khi khám (nhìn, sờ, gõ, nghe) thường không phát hiện được triệu chứng gì rõ rệt, nhất là đối với những tổn thương ở. Một số trường hợp có thể nghe thấy rì rào phế nang giảm ỏ vùng đinh phổi hoặc vùng liên bả, cột sống. Nghe thấy ran nổ cố định ở một vị trí (thường vùng cao của  phổi) là một dấu hiệu có giá trị.
  • Khởi bệnh cấp tính (10 đến 20%);Bệnh bắt đầu với sốt cao, ho, đau ngực nhiều, kèm theo khó thở, cách bắt đầu này thường gặp trong thể viêm phổi bã đậu hoặc phế quản, phế viêm do lao.


Thời kỳ toàn phát

Các triệu chứng lâm sàng ở thời kỳ bắt đầu nặng dần lèn và diễn biến từng đợt, có thời gian giảm sau đó lại trở lại với mức độ nặng hơn. Nếu không được phát liện và điều trị thì bệnh ngày càng nặng.

  • Triệu chứng toàn thân:Nguời bệnh suy kiệt, da xanh, niêm mạc idiợt, sốt dai dắng về chiều và tối.Triệu chứng cơ năng:Ho ngày càng tàng, có thể ho ra máu, đau ngực liên tục, khó thở tang cả khi nghỉ ngơi.
  • Triệu chứng thực thể:Khi bệnh nhân đến muộn, có thể nhìn thấy lồng ngực bị lép (bên tổn thương) do các khoang liên sườn hẹp lại. Vùng đục của tữn bị lệch sang bên tổn thương, nghe có nhiều ran nổ, ran ấm... có thể có tiếng thối hang.

4. Cách Phòng Và Điều Trị Lao Phổi

Phòng bệnh

Biện pháp dự phòng quan trọng nhất là “cắt đứt nguồn lây”, có nghĩa là phải phát hiện sớm những nguời bị lao phổi có AFB(+) và chữa khỏi cho họ. Tùy nhiên, bệnh lao là một bệnh có tính xã hội cho nên những biện pháp dự phòng mang tính cộng đồng cũng rất quan trọng.

- Làm tốt công tắc truyền thông và giáo dục sức khỏe cho mọi người. Ai cũng thiếu được bệnh lao là một bệnh lây truyền qua đường hô hấp, có thể phòng và chữa khỏi được hoàn toàn. Qtia đó, có ý thức phòng bệnh bằng cách tăng cường sức khỏe, làm sạch và thông thoáng tốt môi trường sống.

- Kiểm soát phòng chống lây nhiễm tại các cơ sở y tế hoặc tại những nơi có nguồn lầy (bệnh viện lao, trại giam...) bằng cách: 

  • Người bệnh phải đeo khẩu trang, khi ho, hắt hơi phải che miệng, khạc đờm vào chỗ qui định và đờm hoặc các vật chứa nguồn lây phải được hủy đúng phương pháp. 
  • Tận dụng ảnh nắng mặt trời càng nhiều càng tốt ho nơi ở và các vật dụng của người bệnh. 
  • Tạo được những điều kiện thông gió tốt để không khí được lưu thông nhằm giảm thấp nhất nồng độ các hạt chứa vi khuẩn lao trong không khí. 

Điều trị

-Thu dung, cách lý, điều trị nguời bệnh:

Những nguời bệnh lao phổi phải được đăng kí điều trị và theo dõi suốt trong quá trình mang bệnh. Phương pháp “điều trị có kiểm soát bằng phác đồ ngắn hạn” tại tuyến y tế cơ sở là phương pháp tổ chức chặt chẽ, đám bảo quyền lợi cho nguời bệnh lao được klrám chữa bệnh và theo dõi một cách tốt nhất. Hệ thống mạng lưới tổ chức chống lao phủ khắp  toàn quốc và trên tất cả các tuyến y tế thuận lợi cho công tắc phát hiện và quán lí điều trị. Nguời bệnh được các nhân viên y tế giám sát điều trị trực tiếp 2 tháng đầu tiên. Sau đó sẽ được giám sát bởi các nhân viên y tế hoặc người thân hoậc tình nguyện viên trong giai đoạn sau cho đến khi kết thủc điều trị.

- Dự phòng:

Tiêm phòng vắc xin BCG cho trẻ sơ sinh Người bệnh bắt buộc phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc với nguời khác. Uống INH 300mg/ngày trong vòng 6 tháng dự phòng cho những người có nguy cơ mắc lao cao như nguời có HIV trong các trại giam... Các chất thải của người bệnh phải được xử lý trước khi thải ra hệ thống chung. Đờm và các dụng cụ chứa
phải được đốt, hoặc xử lỹ bằng hóa chất.  Thông gió tốt các buồng bệnh và những nơi tập trung nhiều người bệnh. Tận dụng tối đa ảnh nắng và gió trong môi trường sống và làm việc. 

Nguyên tăc điều trị.

- Người bệnh phải được điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi phát hiện bệnh - Phương pháp điều trị có kiểm soát ùựcc tiếp (DOTS).
- Điều trị theo phác đồ chuẩn được Bộ y tế qui định cho các trường hợp lao phổi mới được phát hiện. 
- Tuân thù nguyên tắc:

  • Uống thuốc đúng phác đồ
  • Uống thuốc đủ thời gian
  • Uống thuốc đều đặn vào 1 lần nhất định trongngày, xa bữa ăn.

- Tất ‘cả các trường hợp lao phổi AFB(+) phải được  thông bảo với cơ quan y tế chịu trách nhiệm của những quốc gia nguời bệnh đi qua để quán lý và đảm bảo người bệnh được điều trị liên tục.

Lưu ý khi điều trị thuốc kháng lao:

  • Uống thuốc đầy đủ, đúng liều lượng, không được tự ý ngưng sử dụng thuốc ngay cả khi các triệu chứng bệnh lao phổi đã biến mất.

  • Sau khi điều trị, vi khuẩn lao phổi nào còn sống sót có thể trở nên kháng thuốc, sau đó phát triển thành bệnh lao đa kháng thuốc (MDR) trong tương lai. Khi đó, việc điều trị bệnh lao phổi gặp khó khăn hơn rất nhiều.

  • Đễ hỗ trợ sử dụng dung dich thở khí dung có thể tham khảo và sử dụng máy xông khí dung Nova (hay còn gọi là máy xông mũi họng Nova) để hỗ trợ điều trị các bênh về phổi. Hiện nay máy xông mũi họng Nova sử dụng công nghệ van ảo cho hiệu quả cao và có giá rẻ nhất thị trường. Để biết thêm chi tiết vui lòng xem TẠI ĐÂY

Xem thêm: 

Các bênh về phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị