ngaigapco-dmx-1200-44-1200x44-1585368216
Khí Phế Thủng Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Khí Phế Thủng

Khí Phế Thủng: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

1. Định Nghĩa Bệnh Khí Phế Thủng: 

Cơ quan hô hấp bao gồm khí quản, 2 phế quản (phải và trái) rồi đển các tiểu phế quản cuối cùng là các phế nang. Phế nang là bộ phận ở nhất trong phổi, là những túi khí đuợc sắp xếp tương tự như một chùm nho, nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất, nơi thực hiện chức năng trao đối khí rất quan trọng của phổi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, không khí đi vào qua các ống dẫn khí vào phế nang, làm cho các phế nang nở ra chứa một luợng lớn không khí. ợ thì thở ra, thể tích phổi thu nhỏ, các phế nang cơ lại đẩy không khí ra ngoài. Khi cấu trúc của phế nang bị phá hủy, độ cơ giãn giảm, mất tính đàn hồi sẽ dẫn đển tình trạng ứ đọng không khí, không đuợc  lưu thông, khí bị bắt giữ trong phế nang, làm giảm khả năng trao đối Oxy và khí Cacbonic. Có thể nói bệnh khí phế thủng là tình trạng căng giãn thường xuyên và phá hủy không hồi phục ở thành cứa các khoang chứa khí dưới tiểu phế quản tận. Tỷ lệ tử vong do khí phế thủng đang có chiều hướng tăng lên. Bệnh tùy khó điều trị nhưng hoàn toàn có khả năng dự phòng được.

2. Nguyên Nhân Bệnh Khí Phế Thủng

  • Viêm phế quản mãn tính: Viêm nhiễm lan đến các tiêu phế quản tận ở trung tâm tiểu thùy, gây phá hủy cấu trúc tiểu phế quản. Viêm phế quản mãn tính có thể do vi sinh vật (vi khuẩn, virut, ký sinh trùng) nhưng cũng có thể do một số nguyên nhân khác như tắc động của hóa chất, bụi bấn, khói do các chất đốt như than đá, khói bếp, khói thuốc lá, thuốc lào. Đặc điểm của khói thuổc lá, thuốc lào là có thể làm tê liệt tạm thời các lông chuyển của thành phế quản, tiểu phế quản và phế nang. Khi các lông chuyển bị tê liệt thì các chất gây kích ứng sẽ bị ứ đọng lại ở phổi và dần dần thâm nhiễm vào các phế nang gây viêm và cuối cùng làm xơ hóa các sợi chun gây căng giãn không hồi phục các tiêu phế quản và phế  nang. Người ta cũng nghiên cứu thấy ràng có một số bệnh nhân bị bệnh khí phế thủng là do thiếu một loại Protein có tên là AAT (AnphaTantitripsin). Đây là một loại Protein có tắc dụng bảo vệ các cấu trúc chun của phổi tránh tắc động của một số men (Enzym). Nếu thiếu Protein AAT có thể dẫn đển tổn thương phổi tiến triển và hậu quả là bị bệnh khí phế  thủng.
  • Hen phế quản: Bệnh hen suyễn mãn tính kéo dài nhiều nàm cũng làm căng giãn thường xuyên các thành phế quản, phế nang và cả hệ thống mao mạch của tổ chức phổi mà hậu quả có thể là gầy nên khí phế thủng. Trong các bệnh về phổi thì bệnh lao cũng là một trong những nguyên nhân đáng kể gây nên khí phế thủng. Khi bị lao phổi, vi khuẩn sẽ làm tổn  hại và gây nên tổn thuơng xơ hóa thành phế nang và làm căng giãn các phế nang.
  • Nguời ta cũng đề cập đển bệnh khí phế thủng có thể do nghề nghiệp như một số nghệ sĩ thổi kèn (nhạc công), công nhân thổi bỏng đèn thủy tinh hoặc bị bệnh bụi phổi.
  • Biến dạng lồng ngực hoặc chít hẹp phế quản: Gây tắc nghẽn phế quản và phế nang, lâu ngày thành khí phế thủng. 
  • Lão suy: Xơ hóa phổi người già gây giãn phế nang.
  • Cơ địa di truyền thuờng phát sinh khí phế thủng toàn tiểu thùy.

Phân Loại

Cần phân biệt với giãn phổi cấp, là tình trạng giãn phế nang tạm thời, không có phá hủy tổ chức, gặp trong hen phế quản, hoặc giãn phổi còn bù. Các loại khí phế thủng khác (giả khí phế thủng), khí phế thủng bấm sinh (không có phá hủy) do tiểu phế quản bị tắc nghẽn, phế quản giảm sản, mạch máu bị chèn ép hoặc tắc nghẽn do u phế quản.

  • Khí phế thủng có thể là nguyên phát tổn thuơng trung tâm tiểu thùy hoặc trung tâm từyến nang (còn gọi là khí phế thủng loại B). Khí phế thủng toàn tiểu thùy hoặc đa từyến nang (còn gọi là khí phế thủng loại A). Khí phế thủng từyến nang xa (còn gọi là khí phế thủng cạnh vách). Tổn thưong các ống phế nang và túi phế nang ở ngoại vi từyến nang, sát màng phổi, hoặc dọc theo các vách liên tiểu thuỳ.
  • Khí phế thủng thứ phát hoặc khí phế thủng quanh tiểu phế quản do tình trạng viêm phế quản mạn lan từ trên xuống tới các tiểu phế quản tận ở trung tâm tiêu thuy. các tiểu phế quản này vì không có sựn, nên nhanh chóng bị phá hủy và giãn ra (do thường xuyên bị tăng áp lực ở thì thở ra), tạo thành các bỏng khí thủng ở trung tâm tiểu thùy. Còn các phế  nang ngoại vi tiểu thùy vẫn bình thường, các mao mạch phổi không bị phá hủy. Cho nên khi thiếu Oxy, sẽ tạo nên các shunt giải phẫu (thông giữa động mạch và tĩnh mạch phổi). Hậu quả sẽ làm cao áp tiểu từần hoàn, dẫn đển ứ huyết ở tim phải và trở thành tâm phế mạn. Trên lâm sàng thấy bệnh nhân vừa có phù, vừa có tím. Khí phế thủng còn gặp ở  những người mắc bệnh nghề nghiêp lâu năm (bệnh bụi phổi) , người bị các tổn thương xơ (thứ phát sau lao). 

3. Triệu Chứng Bệnh Khí Phế Thủng

Phế nang là nơi mà Oxy (được hít vào từ không khí) trao đổi với khí Cacbonic cứa máu ở phổi (Cacbonic được sinh ra qua quả trình chuyển hóa của các tế bào, được máu vận chuyển từ tế bào về phổi). Kết quả của sự trao đối này là Oxy từ không khí được đi vào máu và Cacbonic từ máu sẽ được thải ra ngoài. Khi phổi bị mất tính năng đàn hồi, bệnh nhân có cảm giác khó thở, đặc biệt là khó thở thì thở ra. Khó thở xuất hiện thưòng xuyên hoặc khi gắng sửc, nhất là lúc mang vác nặng, lên cầu thang hoặc làm việc nặng, quá sửc, mệt mỏi và giảm khả năng hoạt động thể lực. Khó thở có thể tăng lên khi nằm hoặc đang mắc một bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp nào đó, nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới
(viêm phế quản, viêm phế quản - phổi, áp xe phổi...). Phế quản không còn thông thoáng nên sẽ bị ứ các chất tiết làm bệnh nliân phải ho để tống những chất này ra ngoài. Giãn lồng ngực, gõ vang là triệu chứng của khí phế thủng. Phù, gan to, tĩnh mạch cố nói là biến chứng gây bệnh tim phổi mãn tính. 

Các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết như X-quang phổi, chụp CT, chụp cộng hướng từ (MRI), đo chức năng hô hấp. xét nghiệm máu ngoại vi, xét nghiệm đờm, điện tim... giúp cho việc chấn đoán bệnh chính xác hơn nhiều. Bệnh khí phế thủng nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể để lại biến chứng nguy hiểm như tâm phế mãn tính, suy hô hấp, tràn khí màng phổi (do vỡ bỏng khí) hoặc gây tắc nghẽn động mạch phổi. 

Các loại khí phế thủng khác biểu hiện lâm sàng không rõ rệt, thường chỉ phát hiện nhờ X-quang và dothông khí phổi.

Nhìn chung ờ bệnh khí phế thủng trên lâm sàng  thường thấy người bệnh khó thở, ho nhiều, lồng ngực giãn, giảm cứ động thở, gõ vang thường xuyên, nghe rì rào phế nang giảm.

4. Cách Phòng Và Điều Trị Bệnh Khí Phế Thủng

Cần vệ sinh hàng ngày họng, hầu, mai, răng, miệng  bằng hình thức đánh răng sau khi ăn, trước khi đi ngủ buổi tối. Khi bị viêm đường hô hấp, hay gặp nhất là viêm đường hô hấp trên (họng, hầu thanh quản, tai, mai họng...) hoặc khi bị viêm phế quản cần được khám và điều trị dứt điểm không để’ bệnh trở thành mãn tính. Cần thiết bỏ thuốc lá bởi thuốc lá, thuốc lào gây nên nhiều bệnh về phổi, đặc biệt là đóng góp vào căn nguyên gây khí phế thủng và ung thư phổi. Gần được trang bị bảo hộ lao động cho công nhân thường xuyên tiếp xúc với khói, bụi như khai thác than đá, vệ sinh môi trưòng và công nhân thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại. Tập thể dục bao gồm tập thể dục thông thường (tốt nhất là đi bộ) và tập thở để giúp cho cơ hô hấp được khỏe mạnh. Tập thở bước đầu nên được hướng dẫn bởi chuyên viên vật lý trị liệu chuyên về hô hấp. Hằng ngày nên tập thể dục đều đặn, nhất là các động tắc thở làm tăng tính đàn hồi cho tổ chức phổi. Cần phải thực hiện triệt để tiêm vaccin phòng bệnh lao (vaccin BCG) cho trẻ sơ sinh và cả những người chưa có miễn dịch chống vi khuẩn lao. Nếu có điều kiện thì nên tiêm một số vaccin phòng bệnh viêm đường hô hấp như vaccin phòng bệnh do phế cầu, Hemopilus influenzae...

Người bệnh thường tử vong sau 10 đển 20 năm từ khi có khó thở. Mục đích của điều trị là làm giảm triệu chứng và ngăn chận bệnh tiến triến, đồng thời giảm thiếu tối đa tắc dụng phụ do thuốc gây ra; lưu thông đường thở, thở Oxy; điều trị biến chứng, điều trị đợt bùng phát của viêm phế quản mạn, dự phòng bội nhiễm, chống lạnh, chống bụi; dùng các  vitamin A, c, E.

Các thuốc giãn phế quản sẽ giúp cho phế quản được thông thoáng tốt hơn, giải quyết tình trạng khó thở cũng như hỗ trợ tống đờm ra ngoài. Các thuốc này có thể dùng qua đường hít dạng khí dung hay đường toàn thân. Cơrticơsteroid có thể dùng để hít trong điều trị dự phòng hay uống (hoặc tiêm) trong điều trị cơn cấp. Khi bị cơn cấp có thể phái dùng thuốc khảng sinh khi nghi ngờ bị nhiễm trùng. Thuốc ức chế men Alpha 1 - Proteinase chỉ sử dụng ở bệnh nhân bị khí phế thủng do thiếu AAT, không nên sử dụng cho nguời bị khí phế thủng do các nguyên nhân khác. Phẫu thuật giảm thể tích phổi và ghép phổi được cân nhắc rất kỹ lưỡng bởi thầy thuốc chuyên khoa về lồng ngực. 

Điều trị dùng thuốc

Các nhóm thuốc thường được chỉ định sử dụng bao gồm:

  • Thuốc  giãn phế quản: thuốc giãn phế quản tác dụng dài hay ngắn đều giúp cải thiện chức năng hô hấp của phổi, giảm khó thở lúc gắng sức và tăng khả năng hoạt động của người bệnh. Có thể sử dụng phối hợp 2 loại thuốc giãn phế quản với nhau để đạt được hiệu quả điều trị cao hơn.

  • Corticosteroid đường hít: thường được kết hợp sử dụng với các thuốc giãn phế quản giúp cái thiện khả năng gắng sức của bệnh nhân.

  • Thuốc kháng sinh: điều trị đẩy lùi các đợt nhiễm trùng hô hấp cấp tính, giúp giảm nhẹ triệu chứng.

Điều trị không dùng thuốc

 

  • Thở oxy liều thấp kéo dài: giúp làm tăng khả năng gắng sức, làm chậm diễn tiến khí phế thũng đến các biến chứng như tâm phế mạn và giúp kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

  • Phục hồi chức năng hô hấp: các kỹ thuật thở như thở chúm môi giúp ích cho việc giảm thể tích khí ứ đọng trong phổi, quá trình hô hấp từ đó có nhiều hiệu quả hơn.

  • Phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi: một phần phổi bị ứ giãn khí quá mức sẽ được cắt bỏ. Kỹ thuật này hiệu quả với khí phế thũng khu trú thùy trên, cải thiện hoạt động của các cơ hô hấp và khả năng gắng sức của người bệnh.

Máy hỗ trợ sử dụng thuốc khí dung: Máy Khí Dung Nova

Khi bác sĩ kê đơn có sử dụng dung dịch khí dung để xông tại nhà hoặc bênh viện, chúng ta nên tìm mua máy khí dung ở những nơi bán hàng uy tín, thương hiệu chính hãng. Xin mách bạn một loại máy khí dung Nova hiện đang được hội hô hấp Việt Nam khuyên dùng. Với công nghệ Nhật Bản máy khí dung Nova được sử dụng van ảo để tạo khí dung hạt rất mịn và dễ thẩm thấu vào nang phổi, giúp hỗ trợ tốt về điều trị các bênh về hô hấp.

Để biết thêm chi tiết về máy khí dung Nova (hay còn gọi là máy xông mũi họng Nova) các bạn xem TẠI ĐÂY.

Xem thêm: 

Các bênh về phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị