ngaigapco-dmx-1200-44-1200x44-1585368216
Áp Xe Phổi Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Áp Xe Phổi

Áp Xe Phổi: Viêm Phổi Là Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Viêm Phổi

 

1. Định Nghĩa Áp Xe Phổi 

  • Áp xe phổi là một viêm nhiễm cấp tính gây hoại tử ở như mô phổi, tạo nên một hang mới chứa mủ, không phải do lao. 
  • Kén khí, giãn phế quản, hang lao, hang ung thư  nhiễm khuẩn không gọi là áp xe phổi, mà gọi là mưng mủ phổi - phế quản, hoặc áp xe hoá, như: kén khí áp xe hóa, hang ung thư áp xe hoá.
  • Áp xe phổi mãn tính là khi ố áp xe tồn tại từ 2 tháng trở lên.

2. Nguyên Nhân Áp Xe Phổi 

  • Vi khuẩn: Vi khuẩn Gram(+): Tụ cầu, liên cầu, phế cầu; vi khuẩn Gram(-): trực khuẩn Klebsiella, Escherichia Cơli, Pseudomonas aeruginosa; vi khuẩn yếm khí; Proteus, Bacteroide, s.anaerobius.
  • Kỹ sinh trùng: Amíp, sản lá phởi (Paragonimus westermani).
  • Nấm: Aspergillus, Blastomyces.
  • Yếu tố thuận lợi: Mắc bệnh mãn tính, nghiện ruợu, thuốc lá, suy giảm miễn dịch, sau gây mê, mổ khí quán, nhổ ràng, cắt Amygdal, dị vật đuờng thở, chít hẹp phế quản do u, nhồi huyết phổi, chuẩn thương ngực.

Hít xuống phổi vi khuẩn từ miệng họng là hay gặp nhát, ngoài ra vi khuẩn từ các ố nhiễm khuẩn từ xa có thể đến phổi qua đường máu hoặc đường tiếp cận (áp xe gan, áp xe dưới cơ hoành). 

3. Triệu Chứng Áp Xe Phổi 

Lâm sàng: có 3 giai đoạn

  • Giai đoạn ổ mủ kín: Bệnh cảnh lâm sàng giống viêm phổi cấp.
  • Giai đoạn ộc mủ; + Sau 6 đến 15 ngày bệnh nhân đột ngột ho tăng lên, đau tăng lên. Ho dữ dội và ộc ra rất nhiều mủ (hàng trăm ml), mủ đặc quánh màu vàng hoặc nhầy màu vàng, lốn nhổn nghững cục mủ tròn mùi hôi thối, vã mồ hôi, mệt lá. Sau đó hết sốt, dễ chịu, ăn ngủ được.
  • Giai đoạn ộc mủ cần đề phòng mủ tràn vào đường thở gây ngạt thở. + Có thể ho ra máu hoặc khạc ra ít mủ nhiều lần trong ngày (khải mủ). Quan sát đại thể mủ khạc ra để sơ bộ có chuẩn đoán nguyên nhân.
  • Mủ màu vàng: Thường do tụ cầu; mủ màu xanh: thường do liên cầu. Mủ màu Socơla, mủ thối khuẩn và có những cục hoại tử đen - vi khuẩn kỵ khí.
  • Giai đoạn ổ mủ thông với phế quản: Bệnh nhân vẫn ho dai dẳng nhất là khi thay đối từ thể và khạc mủ số lượng ít hơn. Khám phổi có thể thấy hội chứng han.

X-quang:Giai đoạn ố mủ kín thấy một bóng mờ không thuần nhất, khá rộng, bờ mờ, chưa có ổ phá hủy ở những giai đoạn sau thấy một hoặc nhiều hang dạng tròn, bờ dầy, xung quanh là tổ chức phổi đông đặc, trong hang có mức khí, nước.

Tiến triển

  • Điều trị tốt khỏi hoàn toàn sau một thời gian để lại sẹo hình ngôi sao.
  • Điều trị không tốt thành áp xe mãn tính (trên 2 tháng, có ngón tay dùi trống) hoặc để lại hang di sót.

Biến chứng

  • Giãn phế quản quanh ố áp xe, mủ màng phổi, màng tim (do vỡ ổ áp xe).
  • Áp xe não, viêm màng não.
  • Khải huyết nặng.
  • Thoái hóa dạng bột các cơ quan.
  • Phát triển nấm Aspcrgillus trong hang di sót.

Áp xe phổi có thể bị chân đoán nhầm với một số bệnh

Mặc dù, các biểu hiện lâm sàng của áp xe phổi khả điển hình, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp có thể chuẩn đoán nhầm với các bệnh lý khác như:

Ung thư phổi áp xe hóa

Thường hướng tới chuẩn đoán ung thư phổi khi bệnh nhân có kèm thêm các biểu hiện như:

  • Nam giới, hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm, tuổi trên 45.
  • Bên cạnh triệu chứng áp xe phổi (sốt cao, đau ngực, khạc mủ...) người bệnh có thể có thêm các biểu hiện khác như; nuốt nghẹn, nói khàn, móng tay khum, ngón dùi trống, phù áo khoác, đau các khớp...
  • Trên phim X-quang phổi thấy hang, nhưng có thêm một số dấu hiệu gợi ý hình ảnh của u phổi hoại tư như hang có thành dày, lệch tâm, xung quanh có các tua gai, ít khi có hình ảnh mức nước hơi.
  • Để chẩn đoán xác định thường cần làm thêm các thăm dò như: soi phế quản và sinh thiết tổn thưong.

Kén khí phổi bội nhiễm

Người bệnh đã có kén khí ở phổi từ nhiều năm trước, tuy nhiên nay bị nhiễm trùng kén khí và gây biểu hiện như áp xe phổi. Bệnh nhân thường có biểu hiện lâm sàng giống áp xe phổi. Tuy nhiên, có thêm một số biểu hiện gợi ý chuẩn đoán kén khí phổi bội nhiễm như: Trên X-quang phổi thấy hình hang, có thành mỏng nhỏ hơn 1 mm, có mức nước hơi. Có thể có trường hợp cần điều trị bệnh nhân ổn định mà thấy hình kén khi còn tồn tại mới chuẩn đoán xác định được kén khí.

Giãn phế quản hình túi cục bộ 

Bệnh nhân thường có tiền sử ho, khạc đờm hoặc có khi ho ra máu kéo dài nhiêu năm, nghe phổi có ran ẩm, ran nổ tồn tại lâu. Để chuẩn đoán xác định, các bác sĩ thường yêu câu chụp cắt lớp vi tính ngực cho bệnh nhân.

Lao phổi có hang

Người bệnh cũng có biểu hiện nhiễm trùng, khạc mủ (lao phổi thường sẽ có khạc máu kèm theo). Những dấu hiệu gợi ý lao phổi như;

  • Bệnh tiến triển từ từ với toàn trạng gầy sút suy sụp, sốt về chiều, ho khạc đờm, hoặc máu.
  • Người bệnh trước đó có tiếp xúc với người mắc lao.
  • Xét nghiệm đờm thấy trực khuẩn kháng cồn kháng toan (AFB) trong đờm (lấy 3 mẫu đờm liên tục trong 3 buổi sáng).
  • Phản ứng Mantoux với Từberculin trong nhiều trường hợp dương tính mạnh
  • Tốc độ máu lắng tảng.
  • Trên X-quang phổi: Ngoài hình ảnh hang gần giống áp xe phổi (nhưng thường ở đinh phổi và không có mức nước hơi) có thể thấy thêm các hình ảnh gợi ý lao phổi như: tổn thương thâm nhiễm hoặc xơ hóa có một hoặc nhiều hang, thường khu trú ở đinh phổi. 

4. Điều trị Áp Xe Phổi 

Áp xe phổi là một trong các cấp cứu nội khoa trong các bệnh hô hấp, do vậy việc điều trị cần rất khẩn trương, các điều trị bao gồm:

Điều trị kháng sinh

-Dùng kháng sinh sớm, theo kháng sinh đồ. Khi chưa có kháng sinh đồ cần điều trị kháng sinh dựa theo kinh nghiệm lâm sàng, mô hình vi khuẩn và đặc điểm kháng thuốc của vi khuẩn ở địa phương bệnh nhân cư trú. Phối hợp từ hai kháng sinh, theo đường tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
- Liều cao ngay từ đầu.
- Sử dụng thuốc ngay sau khi lấy được bệnh phẩm chuẩn đoán vi sinh vật.
- Thay đổi kháng sinh dựa theo diễn biến lâm sàng và kháng sinh đồ nếu có.
- Thời gian dùng kháng sinh ít nhất 4 tuần (có thể kéo dài đến 6 tuần tùy theo lâm sàng và X-quang phổi).

Dẫn lưu ổ áp xe

  • Dẫn lưu tư thế, vỗ rung lồng ngực: Dựa vào phim chụp X-quang phổi thẳng nghiêng hoặc chụp cắt lớp vi tính lồng ngực chọn tư thế bệnh nhân để dẫn lưu tư thế kết hợp với vỗ rung lồng ngực, dẫn lưu tư thế nhiều lần/ngày, để bệnh nhân ở tư thế sao cho ổ áp xe được dẫn lưu tốt nhất, lúc đầu trong thời gian ngắn vài phút, sau kéo dài dần thời gian tùy thuộc vào khả năng chịu đựng của bệnh nhân có thể đến 15-20 phút/lần, vỗ rung dẫn lưu tư thế mỗi ngày 2 đến 3 lần.
  • Có thể nội soi phế quản ống mềm để hút mủ ở phế quán dẫn lưu ố áp xe. Soi phế quản ống mềm còn giúp phát hiện các tổn thương gây tắc nghẽn phế quản và gắp bỏ dị vật phế quản nếu có.
  • Chọc dẫn lưu mủ qua thành ngực: Áp dụng đối với những ổ áp xe phổi ở ngoại vi, ổ áp xe không thông với phế quản; ổ áp xe ở sát thành ngực hoặc dính với màng phổi. Sử dụng ống thông cỡ 7 đến 14F, đặt vào ổ áp xe để hút dẫn lưu mủ qua hệ thống hút liên tục.

Những trường hợp cần chỉ định cắt phần phổi chứa ổ áp

  • Ổ áp xe lớn, có kích thước trên 10 cm.
  • Áp xe phổi mãn tính điều trị nội khoa không kết quả sau 6 tuần.
  • Ho ra máu tái phát hoặc ho máu nặng đe doạ tính mạng.
  • Áp xe phối hợp với giãn phế quản khu trú nặng.
  • Có biến chứng dò phế quản - khoang màng phổi.

Điều trị hỗ trợ khác: 

  • Chế độ ăn: đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng và năng lượng, cung cấp nhiều protein và vitamin.
  • Duy trì cân bằng nước và điện giải, cân bằng toan kiềm
  • Giảm đau, hạ sốt
  • Thở oxy: cung lượng cao khoảng 6 lít/phút trong suy hô hấp cấp. Nếu có suy hô hấp mạn thì thở oxy với cung lượng thấp hơn, khoảng 2 lít/phút.
  • Có thể thở máy khí dung Nova hay máy xông mũi họng Nova bằng dung dịch nước muối sinh lý hoặc thuốc kê đơn của bác sĩ. Để biết thêm chi tiết về Máy Khí Dung Nova xem chi tiết TẠI ĐÂY

Xem thêm: 

Các bênh về phổi: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị